Trang Chủ - Kinh Văn - Ngoại Văn - Tư Tưởng - Khảo Cứu - Văn Học - Nghệ Thuật

Kinh Lá (Mặc Không Tử)


Nhẹ nhàng mỏng manh chiếc lá
Giấu trong mình bài tâm kinh
Huyễn hư vô thường ai hiểu
Thả rơi rơi chiếc bóng mình.

Trà Khuya (Tặng Trà Thơm)


Phật ngài an nhiên tịnh tọa
Con ngồi nhìn khói trầm bay
Đèn khuya tâm kinh lần giở
Mười phương cõi ở lòng này.

Mưa đêm thiên tiên nhã nhạc
Trà Thơm từ cõi Chúng Hương
Lời thơ tặng người Lữ Khách
Rong chơi giữa chốn bụi hồng.

Quảy Trăng Về (Mặc Không Tử)



Đêm khuya hồ tâm lặng
Soi bóng trăng chùa quê
Cửa Tùng hai cánh mở
Sư quảy ánh trăng về.

Nhẹ Khép Cổng Sài (Mặc Không Tử)


Trời đã về khuya, Nguyên lầm lũi ven theo triền núi dẫn đến Thiền Duyệt cốc, sương đêm ướt đẫm đôi vai gầy, buốt lạnh. Qua bao ngày trèo đồi lội suối, đôi giày đã rách nát vì cỏ gai và đá sỏi, chiếc áo bạc màu phong phanh đón gió, tay nãi chỉ vỏn vẹn một bộ đồ, y, bát, tọa cụ và chút lương khô. Khi vừa đến nơi, trăng thu vằng vặc, tỏa sáng lung linh cả núi rừng. Bước vào am tranh, bên ngọn đèn dầu leo lét, vị sư già đang thiền tọa, Nguyên ngồi xuống một bên, chờ đợi…

Mở Cánh Cửa Tâm Hồn Bạn (Thích Nữ Khánh Năng dịch)


Lời người dịch:

Đời sống là một chuỗi những câu chuyện xen lẫn nhau, không phải là những khái niệm. Khái niệm thì khác xa với sự thật. Do vậy, một câu chuyện được kết cấu với tình tiết phong phú và có ý nghĩa thì gần gũi với đời sống thực tế. Đó là lý do tại sao chúng ta dễ dàng liên hệ với đời sống qua các câu chuyện hơn là những lý thuyết trừu tượng. Và đó cũng là lý do mà thầy Ajahn Brahm - tu sĩ người Anh, Tu viện trưởng rừng thiền Bodhinyana và là Giám đốc hội Phật học Tây Úc - chọn cách giảng dạy, trình bày pháp thông qua những câu chuyện.

Gõ Cửa Dưới Trăng (Mặc Không Tử)

“Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu”
(Một chiếc lá ngô đồng rụng xuống
Cả thiên hạ biết mùa thu trở về
Thế đấy! Chính cái đẹp mang tính ước lệ của thi ca xưa: Lá ngô đồng, trăng, cánh buồm khơi… kết hợp với nghệ thuật “vẽ mây nẩy trăng” nên cái độc đáo của thơ Đường là sức hút thu vào bên trong mà người đọc phải tự mình khám phá thế giới ấy, thế giới của huyền thoại, của mộng và thực, của lãng đãng khói sương trên đỉnh núi đá cô liêu ngàn đời tịch mặc, của xao xuyến rêu bèo trên con sông dài cuồn cuộn chảy về khơi…

Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc (HT. Thích Minh Châu dịch)



 KINH TẤT CẢ CÁC LẬU HOẶC
 (Sabbàsava Sutta)

Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo!" --"Bạch Thế Tôn", các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: "Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Người pháp môn phòng hộ tất cả lậu hoặc". Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói". --"Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Thế Tôn nói như
sau:

Trên Đỉnh Phù Vân (Mặc Không Tử)


Cao ngất Yên Tử đỉnh
Đá núi chập chùng mây
Bốn mùa trong tĩnh mịch
Hang mây sương phủ dày
Nửa đời phong trần khách
Lên non nằm ngủ say

Anh Lùa Bò Vào Đồi Sim Trái Chín (Bùi Giáng)


Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín
Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh

Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa
Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh
Chìm ngây ngất vào trong đôi mắt lả
Anh lim dim cho chết lịm hồn mình

Trên Tất Cả Đỉnh Cao Là Lặng Im (Phạm Công Thiện)






... Một đêm, tôi nằm chiêm bao thấy Goethe hiện về, bảo tôi hãy nhớ lại câu thơ ngắn của ông và gợi ý gián tiếp cho nhan đề tập thơ này:


Ueber allen Gipfeln
Ist Ruh

(Trên Tất Cả Những Đỉnh Cao
Là Bình Yên)


Một ngày xa xưa nào đó trong trí nhớ loài người, Goethe đã viết câu trên nơi khung cửa sổ túp lều gỗ vùng núi cao Kickelhaln ở Ilmenau vào một buổi chiều ngày 6 tháng 9 năm 1780; trên năm chục năm sau, trở về thăm lại chốn cũ, tình cờ Goethe nhìn thấy lại những câu thơ mình đã viết bằng bút chì nơi khung cửa ấy, dù trên nửa thế kỷ đã trôi qua và đã xóa đi tất cả mọi sự.