Trang Chủ - Kinh Văn - Ngoại Văn - Tư Tưởng - Khảo Cứu - Văn Học - Nghệ Thuật

Mộng (Mặc Không Tử)

Đêm qua
mộng
bướm vàng hóa kiếp
Cõi trầm hương
một thuở
phiêu bồng
Tình nhân thế

Ngọn Nến Hồng (Mặc Không Tử)

Ngọn nến hồng
trong đêm
thắp sáng một niềm tin
ôi, mắt buồn thơ dại!
em vẽ
những thành quách cổ xưa

Khung Trời Cũ (Tuệ Sỹ)

Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Không Đề (Mặc Không Tử)



Trên cánh hoa đêm
Giọt sương về ngụ
Đợi vầng trăng lên.

Kinh Bốn Niệm Xứ (HT. Thích Minh Châu dịch)

Kinh Bốn Niệm Xứ
(Satipatthàna Sutta)

Như vy tôi nghe.

Mt thi Thế Tôn x Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (kim-ma st đàm) là đô th ca x Kuru.
Ri Thế Tôn gi các T-kheo:
-- Này các T-kheo.
Các T-kheo vâng đáp Thế Tôn:
-- Bch Thế Tôn.
Thế Tôn thuyết như sau:
-- Này các T-kheo, đây là con đường đc nht đưa đến thanh tnh cho chúng sanh, vượt khi su não,
dit tr kh ưu, thành tu chánh trí, chng ng Niết-bàn. Ðó là Bn Nim x.

Sâm Thương Thảo (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

Cuối tháng giêng, trời lạnh sắt se. Nước rỉ ra từ những lùm cây rậm, khe đá hở, rồi theo những đường rãnh, róc rách đổ xuống suối, sườn núi, triền non, mù sương bãng lãng; chỗ đậm như khói, chỗ nhạt như lụa; vật vờ, chao động, nhẹ thênh thênh, huyền ảo như cổ tích, chập chờn như mộng mị. Khi cơn gió thoảng, sương mù lại ùn ùn tỏa ra, phất phơ, lượn vành rồi nằm vắt ngang trên đầu cây trông bình thản, trầm mặc  như một hiền triết ở non cao.

Tư Tưởng Thiền Học Trong Kinh Kim Cang (Thích Nữ Khánh Năng)

Có nhiều cách thức để chúng ta tiếp cận với kinh điển. Chúng ta đọc kinh như một tác phẩm văn học để tìm ra những biểu hiện thẩm mỹ của nội dung tư tưởng, hay đọc kinh để hiểu những phạm trù triết học, những tư tưởng ẩn áo mà kinh hàm chứa, v.v…

Cách thức nào không quan trọng. Song, một điều mà người học Phật cần phải lưu ý là cái chân lý thường nghiệm thì phi ngôn thuyết; nó có được do sự kinh nghiệm của mỗi người, như uống nước nóng lạnh tự biết; tự mình phải thâm chứng lấy những gì hàm dưỡng trong giáo lý, không phải chỉ để hiểu mà còn hành nữa. Nên con đường giải thoát của Phật giáo cốt ở ba kỷ luật: Giới, Định, Tuệ. Giới nhằm điều chế phong thái bên ngoài, Định nhằm điều chế tâm tư, còn Tuệ nhằm hiểu biết chân xác. Sự hệ trọng của thiền định trong Phật giáo là vậy.

Hát Cho Em Nghe (Mặc Không Tử)


Ta hát cho em nghe
lời của trùng khơi sóng vỗ
ta hát cho em nghe
lời của biển dạt dào
như tình thương yêu của mẹ
như quê hương ta đó
dịu ngọt câu ca dao
em ơi! hãy hát lên
bài ca về tình thương và hiểu biết
hãy cất lên lời ca
từ trái tim chân thật

Vịnh Vân Yên Tự Phú (Thiền sư Huyền Quang)

Buông niềm trần tục;

Náu tới Vân Yên.

Chim thụy dõi tiếng ca chim thụy


Gió tiên đưa đôi bước thần tiên.


Bầu đủng đỉnh giang (gổng) hòa thế giới;


Hài thong thả dạo khắp sơn xuyên.

Xuân Ý trong Xuân Nhật Tức Sự của Thiền sư Huyền Quang (Thích Nữ Khánh Năng)

Thiền sư Huyền Quang (1254 – 1334) tên thật là Lý Đạo Tái, quê ở làng Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, nay là làng Vạn Ty, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ Sư dung nhan kỳ lạ, ý chí cao vời, học một biết mười, biện tài hiển Thánh. Năm Giáp Tuất (1274), Sư đỗ khoa thi hương lúc 20 tuổi, năm sau (1275) đỗ đầu khoa thi hội, được bổ làm việc ở Viện Nội Hàn, từng ứng tiếp sứ Trung Quốc, nổi tiếng văn thơ. Nhưng chẳng bao lâu Sư từ chức xuất gia. Niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1305), Sư xuất gia thọ giới tại chùa Vĩnh Nghiêm, theo làm Thị giả Điều Ngự Giác Hoàng, được pháp hiệu là Huyền Quang. Sư thường phụng chiếu đi giảng dạy kinh các nơi và tuyển Chư Phẩm Kinh, Công Văn, v.v... Những khoa giáo trong nhà thiền mỗi mỗi đều phải qua tay Sư cả. Sau Sư theo hầu Nhị Tổ Pháp Loa y theo lời phó chúc của Điều Ngự Giác Hoàng. Năm Đại Khánh thứ 4 (1317), Sư được Pháp Loa truyền y của Điều Ngự Giác Hoàng và tâm kệ. Khi Pháp Loa mất (1330) Sư nối tiếp làm Tổ thứ ba dòng thiền Trúc Lâm.